Saturday, July 9, 2016

Hãy gọi tên tôi là Sư tử

Source: tanvien.net

Nhà văn, nhìn một cách nào đó, là kẻ đến sau biến động. Ngay sau 1975, văn học hải ngoại còn in hằn nét đau thương, giận dữ, và có cả hận thù. Nó mang tính “trung thành” với thời cuộc (chống Cộng ở đây mang tính công dân như “thù nhà, nợ nước”, hơn là mang chất văn chương). Vả chăng, hận thù, đối với một nhà văn, là thất bại của trí tưởng tượng. Cùng với thời gian, những con chữ ngày càng thoát ra khỏi những rằng buộc nhất thời, và đủ sức chuyển tải cuộc sống đa đoan phức tạp của những con người Việt Nam xa quê hương. Khởi từ lời khuyên của Don Quixote, “Đừng tìm những con chim ngày hôm nay, ở trong cái tổ ngày hôm qua”, văn học hải ngoại của người Việt Nam sau 25 năm bắt buộc nhìn về phía trước. Theo nghĩa đó, tôi tin rằng dịch thuật chính là cánh cửa mở ra văn học Việt Nam hải ngoại. Dịch thuật còn là cái cầu “Ô Thước”, cho hai con phượng hoàng song sinh “hội nhập”, trở thành một. So với hằng hà sa số những “sáng tác” hiện xuất hiện trên một số báo văn học, và xuất hiện đầy rẫy trên những trang nhà trong không gian ảo trên lưới thông tin toàn cầu, chúng ta mới nhận ra sự quan trọng của dịch thuật, theo nghĩa: chiếm đoạt, cầm tù cái nghĩa (meaning), làm giầu có cho tiếng nói, ngôn ngữ Việt.

 “Đừng gọi ta là Hiệp Sĩ Mặt Buồn nữa. Hãy gọi ta là Hiệp Sĩ Sư Tử”, Don Quixote ra lệnh cho người hầu. Hiệp Sĩ Mặt Buồn ám chỉ Đấng Cứu Thế. Hiệp Sĩ Sư Tử là để chỉ con người, trong cuộc phiêu lưu tìm lại chính mình, một khi thần thánh đã bỏ đi. Cuộc phiêu lưu đó bắt đầu bằng tiểu thuyết. Với Âu Châu, tiểu thuyết là thể dạng văn học thứ ba, sau hùng ca và bi kịch (Hy Lạp). Theo G. Lukacs, tiểu thuyết là để diễn tả cõi “không nhà siêu việt”; nói nôm na, nó diễn tả thân phận lưu vong của con người, khi không còn thần thánh nữa.

 Theo nghĩa đó, nhà văn Việt Nam hải ngoại bắt buộc phải là những vị hiệp sĩ sư tử, trong cuộc chinh phục ý nghĩa, về chính thân phận người Việt lưu vong nơi xứ người.

  NQT

Thursday, July 7, 2016

Orhan Pamuk tưởng niệm Umberto Eco

source: http://www.faz.net/aktuell/feuilleton/buecher/autoren/zum-tod-von-italienischen-schriftsteller-umberto-eco-14082704.html

Tôi thực sự choáng váng khi hay tin Umberto Eco qua đời. Ông là nhà văn có sức ảnh hưởng sâu đậm đến tôi, và từ ông tôi đã học được rất nhiều điều, tôi xin nói rằng: tôi không những kính trọng, mà còn hết mực yêu quý và ngưỡng mộ ông.

Vào những năm '80s, khi tôi cố gắng hướng mình thành một tác giả trường phái hậu hiện đại, có nhiều yếu tố thể nghiệm, tôi đọc những cuốn sách của ông, và tìm thấy rất nhiều sự nâng đỡ từ tính bông đùa hậu hiện đại, phong cách ông sử dụng tính hài hước, trí tuệ và mỉa mai trong những cuốn tiểu thuyết. Ở nơi tôi sống, chúng tôi có những vấn đề của riêng mình trong cách xử lý Lịch sử và Truyền thống. Những cuốn sách của Umberto Eco đã chỉ cho tôi những khả năng tiếp cận những vấn đề này với tư cách nhà văn.

Tôi rất may mắn, khi chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên ở Istanbul cách đây đã nhiều năm, rồi ông mời tôi tới Bologna, tại chính trường đại học, tại chính khoa kí hiệu học của ông, tôi được phép giữ lại nhiều bài giảng. Sau đó chúng tôi đôi khi gặp nhau ở Istanbul, ngồi trò chuyện cùng nhau trong phòng làm việc của tôi. Ông thật vô cùng sáng suốt và dí dỏm, rằng mỗi cuộc gặp gỡ với ông là một niềm vui lớn lao. Có một điều bạn nên biết: Mỗi khi ai đó lắng nghe Umberto Eco, người đó sẽ nở một nụ cười. Tại sao ư? Bởi vì khi đó Eco cho phép người đó được sống trong thế giới của ông, một thế giới tuyệt vời của những điều khéo léo, thông mình và thông tuệ. Sự thông tuệ đối với ông không phải là sức mạnh, mà là sự tự do. Umberto Eco hiểu rằng sự thông tuệ là con đường tuyệt vời nhất để giải phóng con người một cách hòa nhã và vui tươi. Vì điều này mà tôi yêu mến và ngưỡng mộ ông hơn tất thảy.

Một hôm, khi ông đến phòng làm việc của tôi ở Istanbul, ông ngồi đối diện tôi trên một chiếc ghế lớn. Và khi tôi kể cho ông nghe rằng, chiếc ghế này là của cha tôi và tôi thường nhớ cha tôi đã ngồi trên chiếc ghế này như thế nào, khi tôi còn nhỏ, Eco gật đầu và nói, ông cùng tuổi với cha tôi. Tôi tin rằng, ông muốn ngụ ý, theo một cách nào đó, ông giống như người cha của tôi. Tôi cho rằng ông đã đúng: Umberto Eco, từ con người này tôi đã học quá nhiều điều, là một hình tượng người cha trí tuệ của tôi. Với lòng tiếc thương vô hạn.

Wednesday, June 8, 2016

The heart of the matter (1)

James Wood, khi đọc The heart of the matter, tự hỏi, tại sao ta không bắt đầu ngay chính nó, cái đoạn văn mở ra cả tác phẩm:

Wilson ngồi tựa đầu gối trần trụi vào khung sắt trên bao lơn khách sạn Belford. Đó là một ngày Chúa nhật và chuông Thánh đường đổ một hồi lễ sớm. Bên kia phố Bond, qua những ô kính trường Trung học, những nữ sinh da đen mặc áo sơ mi đang vung vẩy mái tóc xoăn tít. Wilson mân mê bộ ria mới chớm, chờ ly gin hồng (gin-and-bitters).

Một khúc mở đầu, với độ tỉ mỉ theo trường phái Flaubert khúc xạ qua ống kính quay phim, cho ta biết tại sao Graham Greene gọi mình là "a film man". Chỉ trong vài dòng, Greene thực hiện sự tôn kính với một truyền thống, rằng giọng văn giả tưởng chỉ nên trưng bày, chứ không kể. Nhưng, vậy thì, cái gì được trưng bày ở đây?

Đầu tiên, khách sạn Belford và phố Bond. Những cái tên kinh điển này cho ta biết bối cảnh của một thuộc địa Anh, chỉ phảng phất chút gì chung thủy với mẫu quốc. Chiếc quần cộc của Wilson khẳng định lại điều này, nhưng nó còn có một hàm ý sâu xa hơn: học trò mặc quần cộc. Vậy thì tay thực dân trẻ viễn dương này, nhìn từ trên cao xuống những gì gã cai trị, chẳng hơn gì một đứa trẻ, một âm bản trắng của những nữ sinh da đen hắn thấy bên kia đường. Cái đầu gối trần trụi của Wilson đang tựa vào khung sắt của cái bao lơn như thể khung sắt của cái bàn học. Hay là một hàm ý đen tối hơn? Có thể cái đầu gối đang bị cầm tù.

Đoạn văn mở đầu thiết lập không chỉ địa dư mà còn viễn ảnh của cuốn sách: một thuộc địa Anh ở Tây phi trong Thế chiến II, phỏng theo chuyến du hành của Greene tới Sierra Leone. Xuyên suốt cuốn sách, nơi chốn này như thể một trường nội trú và như một nhà tù. Scobie, nhân vật chính khốn khổ, nghiền ngẫm, "người ta đếm tuổi theo tháng năm ở thuộc địa", hay-như điều này ngụ ý-như tù nhân bóc lịch.

[ Mục đích của giả tưởng, Joseph Conrad viết, là để ‘thấy, nhìn’. (Le but de la fiction est de donner voir). Nước trôi mây cuốn, Stevenson cho câu chuyện ‘chẩy xung quanh hình ảnh mà ông ta tạo nên’. Ngay từ khởi thuỷ, tiểu thuyết hiện đại tìm kiếm, điều mà điện ảnh đã hoàn tất. Từ đó, những mô tả nhân vật thật chi ly tỉ mỉ của Balzac, là để đợi một tay đạo diễn. Để ‘chính danh’, tới lượt điện ảnh đòi cho nó, một thế giá ‘viết’ đích thực: Ta cũng là văn chương như mi! Ta cũng là một thứ chữ viết! Cuộc thoại - đối thoại, mâu thuẫn, xung đột, rồi chan hòa vào nhau - giữa chữ viết và hình ảnh, đã trấn ngự thế kỷ của chúng ta. Với đìện ảnh, là hiện diện tức thời, thế giới bầy ra đó; với văn chương, là cả một ‘trường tưởng tượng’ (champ de l’imaginaire). Nhà văn bắt đầu ‘mượn đỡ’ kỹ thuật, văn phạm điện ảnh, để ‘xài riêng’. Ngược lại, điện ảnh khám phá ra một điều: văn chương là một cái giếng giầu sang, vô đáy, tha hồ mà tiêu xài, phung phí.]

Saturday, June 4, 2016

Alberto Manguel đọc Sa mạc Tác ta




"The eye with which I see God is the same eye with which God sees me"
-Meister Eckhart

Như nhiều cuốn sách yêu thích, cuốn của Buzzati tôi đọc thuở mới lớn, câu chuyện của Drogo, một sĩ quan trẻ được phái đi trấn giữ “Đồn Xa”, ở tận mép bờ sa mạc Tác Ta, và năm này qua tháng nọ, anh bị ám ảnh bởi cái chuyện là, phải chứng tỏ mình là một tên lính xứng đáng trong cuộc chiến đấu chưa hề xẩy ra, với rợ Tác Ta.
Đồn Xa quả là một tiền đồn heo hắt. Và chẳng giống ai. Nó có một hệ thống rắc rối, của những mật ngữ dùng để kiểm tra, khi vô cũng như khi ra.

Tôi [Alberto Manguel] nhớ là đã từng cảm thấy khiếp sợ [và lúc này đang bị] đẩy vào trong một cơn ác mộng của Drogo, gồm đầy những bí mật của những bí mật, của những mật mã, được trao cho, chỉ một vị sĩ quan chỉ huy, và vị này có thể bị mất trí nhớ, hoặc quên mẹ mất đường. Một mạng nhện, của những luật lệ phi lý, sự đe dọa của một kẻ thù vô hình, chúng âm vang, vọng đi vọng lại, rền rền rĩ rĩ, tất cả những nguồn cơn ai oán, những bực bội không lối thoát, vô hy vọng, của một thời mới lớn, và bây giờ, của một người đàn ông đi quá nửa đời người.

Ở Đồn Xa, không phải thời gian ngừng trôi, mà là kinh khủng hơn, thời gian tiếp tục theo nhịp điệu của riêng nó, chia cắt Đồn Xa ra khỏi phần còn lại của Vũ Trụ.
Giống như những nơi chốn ‘tận cùng thế giới’ - Finisterre, Land's End, Tierra del Fuego - Newfoundland [tên một vùng đất - một tiểu bang - của Canada] tách biệt ra khỏi cõi thời bình thường, thường lệ. St John’s có một điều gì đó của Đồn Xa trong cuốn tiểu thuyết Sa mạc Tác Ta của Dino Buzzati: một nơi chốn có vẻ như không thể nào rời bỏ, và cũng không thể tới được, một nơi chốn đóng cứng vào thời gian chuyện thường ngày ở huyện của riêng nó, và không có cái gì ở bên ngoài có thể đụng vô. Có thể vì vậy mà tôi thấy St John’s thật kỳ kỳ...

Khi Drogo chết (như là một anh già, với ước mơ chiến thắng Rợ Tác Ta mũi tẹt không thoả nguyện), Buzzati có đó, để an ủi bồ tèo của mình. Khi Don Quixote ngỏm, Cervantes ú ớ, không biết nói câu giã từ kẻ mà mình sáng tạo ra, bèn lắp ba lắp bắp: "Cái phần tinh anh của Ngài [Đức Ông, Don], đã bỏ Ngài, tôi muốn nói, Ngài ngỏm rồi". Trước cái chết của Drogo, Buzzati an ủi kẻ mà mình tạo ra, này, vưỡn còn một trận uýnh, bảnh lắm, rất xứng đáng với bồ tèo!

Không phải trận đánh chống Rợ Tác Ta mũi tẹt, cũng không phải trận đánh chống lại "những con người như bồ tèo - những con người bị tra tấn, như bồ tèo đang bị tra trấn - bằng chờ đợi, chờ hoài chờ huỷ một trận đánh đếch xẩy ra, bằng đau khổ, với thịt da rất dễ bị bầm dập, với bộ mặt mà một con người có thể nhìn vô, [và nhỏ lệ, như BHD đã từng nhỏ lệ, lần Gấu ăn mìn VC!]” nhưng mà là một trận đánh chống lại "một sinh vật vừa quỉ ma vừa quyền lực vô biên, vô cùng tận" [Cái Ác Bắc Kít]. Và Buzatti bèn nói thêm, điều này:
“Hãy can đảm, Drogo, đây là con bài chót của bồ tèo – đi tới cái chết, như là một người lính, và cho phép cuộc đời lầm lẫn của bồ có được một cái tận cùng thật bảnh. Cuối cùng, bồ đã chơi cho số mệnh một cú thật hách. Chẳng có ai ca ngợi bạn, chẳng có ai gọi bạn là anh hùng [Núp], hay dũng sĩ diệt Mỹ Ngụy, hay một cái tên na ná như vậy, và, chính vì lý do này, mà thật đáng công, bõ chết. Bước qua lằn ranh mờ mờ ảo ảo bằng một bước thật vững vàng, đầu ngẩng cao như đang đi diễn hành trước Lăng Bác, và nếu có thể, mỉm cười. Nói cho cùng, luơng tâm của bạn sẽ không đến nỗi quá nặng nề. Bạn sẽ không phải tự vấn, tự kiểm, tôi là một thằng hèn, tôi đang đi tìm cái tôi đếch có, cả đời tôi ăn bánh vẽ... Và Thượng Đế bèn mỉm cười, trao tặng bạn gói quà, là lời tha thứ của Người.”

-NQT lược dịch

Tuesday, March 8, 2016

Bụi

Source: tanvien.net



Những người từng ở Trại Cấm Sikiew, Thái Lan, chắc khó quên được Giáng Sinh 1991.

"Đây có thể sẽ là Giáng Sinh cuối cùng của các con tại Sikiew...", Cha người Thái cai quản địa phận nói với đám người tị nạn. Trại sẽ đóng cửa vào cuối năm tới theo như tin tức báo chí. Và ông cho tiền làm một lễ Giáng Sinh như ở ngoài đời tại nhà thờ ở khu C trong Trại.

Phía trước nhà thờ là một khu đất trống với những mỏm đá. Chiều chiều, dân tị nạn thường ra ngồi hóng mát. Bệnh viện "Y sĩ không biên giới" ở sát bên.

Gần cổng gác phía trong, có một tảng đá, lởm chởm những chữ: "Khu C không có vấn đề gì".

Sikiew gồm ba khu, chia cách nhau, và chia cách với thế giới bên ngoài bởi những hàng rào kẽm gai, những cổng gác, những tường cao. Nhà tù ở khoảng đất chũng, ngay dưới khu nhà dành cho nhân viên Bộ Nội Vụ Thái. Trước có những vòng kẽm gai bao quanh, sau được gỡ bỏ.

Em không nhớ đâu, lần đầu chúng ta gặp, những ngày dài ở Trại.

Đúng ra là lần đầu anh nhìn thấy em.

Khi được biết cơ quan ARC (American Refugee Committee) cần một thiện nguyện viên cho chương trình Sức khoẻ Tâm thần, vì muốn kiểm tra mớ tiếng Anh còn sót lại, anh đến gặp ông K. Trưởng Toán. Em và mấy người bạn ngồi quanh một chiếc bàn dài gần bên. Chắc anh nói tiếng Anh quá dở vì anh thấy em bĩu môi, quay đi, mắt thờ thẫn nhìn ra phía bên ngoài cửa sổ.

Chẳng phải cái bĩu môi, cái nhìn thờ thẫn, vẻ dửng dưng chẳng chờ mong bất cứ điều gì, nhưng dung nhan tàn tạ ở em làm anh giật mình. Anh tự nhủ thầm, đây là một thiếu nữ ngày xưa chắc chắn xinh đẹp lắm. Cái bĩu môi kia ngày nào chúa láu lỉnh, bây giờ thêm một chút chua chát, chán chường... Đây cũng là một con người vừa thoát ra khỏi quá khứ và chắc chắn không làm sao quên nổi.

Viết như thế chỉ là miêu tả?

Proust nói, những gì đã sống đều mong được sống lại. Miêu tả là làm sự vật sống lại, theo sự "sắp xếp" của người viết.

Như vậy "cách" miêu tả rất quan trọng?

Đó là quan niệm của Kafka, kỹ thuật chính là linh hồn của văn chương.

Anh như nhìn thấy chính anh.

Không, chẳng bao giờ anh muốn coi anh, em và tất cả chúng ta là những nạn nhân. Đó là niềm tự kiêu cuối cùng chúng ta còn giữ được để sống sót.

"Không phải như vậy đâu. Cái chế độ đó chẳng làm gì nổi em. Có khi em còn phải cám ơn nó, nhờ nó mà em gặp anh H. Ảnh trước là cảnh sát đặc biệt, sau 75 đi cải tạo, vợ bỏ. Rồi chúng em gặp nhau".

"Hồi nhỏ em mong ước trở thành ca sĩ, nhưng căn bệnh xóa sạch mọi ước mơ, kể cả ước mơ sẽ có người yêu, có chồng có con như tất cả những người đàn bà bình thường khác. Thầy biết không, anh H. có một đứa con với người vợ trước".

"Nhưng nếu không vì dung nhan tàn tạ, chắc gì Thầy đã nhận ra em?"

Em ở bên C, anh bên A. Khu A gần hàng rào. Phía ngoài là trại tù giam giữ người Việt ở Thái nhưng không chịu sinh sống tại những địa phương do chính quyền chỉ định. Tuy là tù nhưng họ được tự do, thong thả hơn so với đám người tị nạn trong trại cấm. Nhờ vậy mà có chuyện mua đồ hàng rào. Trong ném tiền ra, ngoài ném đồ vô. Những vật dụng cho đời sống hàng ngày. Và rượu. Ma túy.

Anh còn nhớ có lần em nhờ anh mua giùm một đôi guốc. Mua được rồi, anh nhét kỹ trong người, đi qua trạm gác phân chia hai khu vực.

Bây giờ ở đây, khi gió, tuyết, và nỗi cô đơn lạnh cứng người, anh vẫn cảm thấy chút ấm áp của đôi guốc ngày nào. Và anh thèm sống lại cảm giác hoang mang, lo sợ khi đi ngang trạm gác.

Rồi những lần bên ngoài thương tình ném trái cây vào trong trại.

Có một truyền thuyết được truyền tụng bằng "kỹ thuật" rỉ tai giữa đám người tị nạn ở Sikiew. Vào những đêm trước khi xổ thanh lọc, những linh hồn người chết lang thang trên những mỏm đá phía trước giáo đường, nơi được dùng để công bố kết quả. Có người nói đó là linh hồn cô gái treo cổ tự tử sau khi rớt thanh lọc. Và cũng giống như những kẻ sát nhân không thể quên nơi xảy ra án mạng, cô vẫn quanh quẩn nơi chốn xưa, chờ đón những hồn ma mới. Một số khác dựa vào khoa học, coi đó là hồn ma của chính họ, ngày đêm bị tù túng, bèn tìm cách xuất khỏi xác.

"Thôi mà...", một người ra vẻ hiểu biết, "chỉ là mấy ông mãnh vô công rồi nghề, đêm mò ra kẽ đá bắt dế, ngày xúm nhau chơi trò con nít, thay vì ôm cái máy điện tử bấm liên hồi..."

Sau cùng có hai tay rủ nhau thức suốt đêm. Câu chuyện họ kể lại nghe cũng có lý...

"Hình như cái số của em là cứ bị mấy ông thầy thương. Anh H. cũng là thầy dậy em học đờn. Em đã chọn anh H., chính em chọn" .

Vậy mà đã trên ba năm trời. Điều anh lo lắng nhất vẫn là căn bệnh của em. Những ngày cuối cùng ở Trại Cấm, chờ đợi kết quả thanh lọc, có mấy ai chắc chắn qua được, đó là những ngày anh thấy em bệnh nhất. Và cũng thấy em đẹp nhất. Cơn đau làm má em ửng đỏ, làm em đẹp một cách lười biếng, không thèm che đậy, buông thả trong cách ngồi, cách lơ đãng nhìn bài học, nhìn ông thầy. Khi em nghĩ, có thể em đang làm phiền bạn đồng học, hoặc cơn đau làm em hết chịu đựng nổi, em bỏ ra ngoài. Hình như anh thương em từ ngày đó. Thương theo nghĩa muốn chia sẻ cùng em một chút cơn đau. Khi em rời Trại Cấm, lên khu chuyển tiếp, chờ gặp phái đoàn, chờ ngày đi định cư, chỉ tới phút đó, anh mới nhìn rõ tình cảm của mình. Anh mừng thầm, vì chẳng bao giờ em biết được, và khi anh chạy theo em, chắc chắn là em đã đi rồi. Anh mặc cả cùng số mệnh, nếu anh qua được, em còn ở đó, anh sẽ nói...

Em nhớ lần đầu anh xin hôn em? Bữa đó, em đang ngồi ăn. Anh H. xong trước, bỏ ra ngoài tụ tập với đám bạn bè cũng lính tráng, sĩ quan ngày xưa. Em vừa ăn, vừa cười, vừa nói... Môi em bóng nhẫy, anh không thể dằn được, hỏi xin. Em láu lỉnh trả lời:
Trời đánh còn tránh bữa ăn!

Chính cái tính tình thông minh, cái bĩu môi đầy gợi cảm, cái lối nói như buộc lấy nhau đó làm anh khốn khổ, khốn nạn vì em.

Ngay cả lá thư đầu em viết, anh cũng không thể ngờ được. Bữa đó, anh qua nhà, em nghiêm trang nói: "Thầy ngồi xuống đây, sửa giùm em bài tiếng Anh". Đâu có ngờ đó là những tình cảm, sự hối hận, cơn hoảng sợ vì trò đùa biến thành sự thật:

What we are doing is not good... Cái điều chúng ta đang làm không tốt. Thầy đừng qua nhà em nhiều. Khi em đi rồi Thầy sẽ khổ. Em cũng nhớ Thầy vậy.

Họ nói, họ thấy hai ông tiên, râu tóc bạc trắng, mỗi ông cầm một cuốn sổ, ngồi đối diện trên hai mỏm đá. Bên dưới là những hồn ma, kẻ khóc lóc, kẻ năn nỉ... "Sự thật" nổ bùng ra, như thuốc súng. Mọi người đổ xô ra mân mê, khẩn cầu hai mỏm đá vô tri. Có thể vì quá bực mình, hoặc ái ngại, hoặc muốn cho cuộc phán xét tử sinh được công tâm, hai vị tiên đã cho xây những bức tường cao, che kín mọi bí ẩn.

Bây giờ nếu bạn không tin, xin mời tới Sikiew. Những bức tường giờ này vẫn còn, và được dùng vào việc giam tù, đóng dấu ấn Địa Ngục.

Trong những điều được nói về Sikiew, tất cả chỉ là bịa đặt, hoặc tô điểm. Duy có điều này: Nó thực sự là một địa ngục.

-Nước mắt cũng có hạn. Nơi này đổ ra nhiều thì nơi khác dè xẻn lại.
-Bạn muốn nói, đừng lạm dụng cảm xúc?
-Người ta chỉ đọc khi xúc động. Nhưng chớ bao giờ lạm dụng cảm xúc của độc giả cũng như của chính mình.
12 giờ đêm.

Không ai ngủ được. Có chăng chỉ là vật vờ, khắc khoải. Cứ như áy náy, xót xa một điều gì. Trời không nóng. Sikiew vào độ cuối năm thường se lạnh về đêm. Một số người ngày thường vốn dễ ngủ, vậy mà đêm nay cũng làm như bực mình vô cớ. Họ kéo nhau ra sau căn lều bầy một bàn trà, nhỏ to trò chuyện. Đám an ninh, vốn rất nghiêm với những vụ vi phạm 48 điều nội qui, đêm nay sao cũng như chùng xuống. Trong căn lều đèn đã tắt. Đám người quanh bàn trà thỉnh thoảng khum tay che ngọn đèn cầy chập choạng trước gió. Ngoài kia trăng lưỡi liềm treo chếch, ngược ngạo một bên trời, sau rặng cây. Trong căn lều có ai đó la ú ớ. Mọi người giật mình. Không phải. Báo động hoảng.

1 giờ sáng

Luồng gió lạnh tẩm đầy thứ sương sớm ẩm độc của miền núi theo nhau ùa xuống thung lũng Sikiew. Bóng đen sẫm của khối núi phía sau Trại đè nặng lên mớ lều lùn tịt. Ánh trăng mầu huyết dụ rùng mình giữa đám lá cây. Một con cú từ họng núi xa, nhắm căn lều vỗ cánh loạn xạ. Tiếng đập cánh làm một con chó hoang rướn cổ tru dài. Con cú đảo một vòng quanh lều, rúc lên một hồi. Một con mèo đen, từ một xó xỉnh nào, bỗng nhẩy xổ lên mặt bàn. Mấy chiếc ly giật mình kêu loảng xoảng. Ngọn đèn cầy chao nghiêng, rỏ xuống mặt bàn mấy giọt nến làm dấu.

Đột nhiên nhận ra sự hiện diện của đám người ngồi quanh bàn, con cú đảo về phía núi, đầu ngoái lại như tiếc rẻ. Câu chuyện đang từ đề tài muôn thuở, thanh lọc, bỗng chuyển qua điềm triệu. Một anh chàng trung niên, cựu sĩ quan, quả quyết chính mắt nhìn thấy một con cú khổng lồ trên nóc dinh Độc Lập, đúng đêm 30 tháng Tư năm nọ. Nó cứ rúc lên từng hồi. Mọi người rướn dài cổ, há hốc mồm... "Hỡi các anh em binh sĩ, sĩ quan, hãy buông súng đầu hàng!"

2 giờ sáng

Sương xuống nhiều hơn. Trời đất mù mù, ảo ảo, nhuộm mầu máu bầm của lưỡi trăng ma quái móc một nửa vào mái bệnh viện. Con cú trở lại. Sợ đám người, nó lựa một cành cây chết ngay bên dưới lưỡi trăng, rúc lên từng hồi. Đám người không ai bảo ai, lượm đá ném tới tấp. Không thèm để ý đến việc làm vô ích, con cú chờ đám người hết lăng xăng, một lúc sau mới rời cành cây, theo hướng núi bỏ đi.

3 giờ sáng

Anh chàng thanh niên chợt thức giấc, ngó lên căn lều, ngạc nhiên lẩm bẩm: "Quần áo ai treo lủng lẳng...". Bỗng anh giật bắn người, tỉnh hẳn.

Xác cô gái được gỡ xuống, đem cho mấy ông Y Sĩ Không Biên Giới.

Yêu tức là cầu chúc quên được nhau

Sikiew nổi tiếng trong đám người tị nạn vì bụi của nó.

Ngay những giấc mơ của họ cũng đầy bụi.

Chúng mình chỉ là hai hạt bụi lỡ thương nhau.

Người xưa thèm nắm áo đề thơ. Có lần anh mơ thấy em. Và sau đây là bài thơ nắm áo:
Chiều ngu ngơ phố thị...

(Khi chuyện cô gái treo cổ tự tử xẩy ra, anh và em đã rời Sikiew. Chắc em còn nhớ Dũng, học trò Pháp văn, bạn cờ, và cũng là người giúp đỡ anh rất nhiều trong những ngày ở Trại Cấm. Dũng đã ghi lại, gửi lên trại Transit cho anh, nhờ sửa rồi gửi cho các báo hải ngoại, hy vọng có chút tài liệu khi tái thanh lọc. Dũng rất mê văn chương, rất phục Garcia Marquez. Chi tiết con cú đậu trên nóc dinh Độc Lập là của Dũng. Cũng vậy, những đoạn tả cảnh địa ngục trong lúc chờ đón linh hồn nạn nhân. Anh chỉ sửa lời văn, thêm thắt một vài chi tiết. Chính chi tiết lý thú đặc chất Garcia Marquez về con cú đã gợi hứng cho anh, và anh đã viết thành một truyện ngắn, tác giả Nguyễn Anh Dũng, gởi đăng ở một tờ báo ở Úc, và một ở Canada. Hồi ở trại Transit, hình như em đã có đọc.

Lâu lắm, anh không còn nhận được tin của Dũng. Anh viết lại câu chuyện trên, thêm phần của anh và của em, như một kỷ niệm những ngày ở Trại. Anh mong một ngày nào em sẽ đọc, Dũng sẽ đọc, và biết rằng, chính anh ta, và bây giờ có em, là tác giả truyện ngắn này).

Nguyễn Quốc Trụ