Tuesday, September 13, 2016

Những chuyện kể ở Phú Quốc

- Ngày xưa ở Phú Quốc có rất nhiều heo rừng. Mỗi con nặng khoảng 15kg, nhỏ như heo mọi, rất ít mỡ. Thợ săn có lần đặt bẫy, quặp trúng chân con heo rừng. Nó quẫy đạp, rồi tự cắn đứt chân, thoát bẫy.

- Phú Quốc có con sông tên Cửa Cạn. Nước mặn ngọt theo mùa. Truyền thuyết kể lại, Nguyễn Trung Trực, sau khi mất thành Rạch Giá, lui về Cửa Cạn trú ẩn. Người ta tin là Nguyễn Trung Trực không bị ai phản bội. Có thuyết cho rằng, ông nạp mình để chuộc mẹ. Vẫn là truyền thuyết, đao phủ người Kh'mer hộc máu chết ngay tại chỗ, sau khi chặt đầu Nguyễn Trung Trực.

- Trận bão tầm 1998-1999 là thảm khốc nhất trong kí ức những người còn sống. Nghe kể lại, hàng ngày đứng trên bờ biển, thấy hàng hàng tàu chở xác người về đất liền. Nhiều xác bị cá rỉa không toàn thây. Năm đó, dân Phú Quốc không ăn cá suốt 3 tháng liền.

Saturday, July 9, 2016

Hãy gọi tên tôi là Sư tử

Source: tanvien.net

Nhà văn, nhìn một cách nào đó, là kẻ đến sau biến động. Ngay sau 1975, văn học hải ngoại còn in hằn nét đau thương, giận dữ, và có cả hận thù. Nó mang tính “trung thành” với thời cuộc (chống Cộng ở đây mang tính công dân như “thù nhà, nợ nước”, hơn là mang chất văn chương). Vả chăng, hận thù, đối với một nhà văn, là thất bại của trí tưởng tượng. Cùng với thời gian, những con chữ ngày càng thoát ra khỏi những rằng buộc nhất thời, và đủ sức chuyển tải cuộc sống đa đoan phức tạp của những con người Việt Nam xa quê hương. Khởi từ lời khuyên của Don Quixote, “Đừng tìm những con chim ngày hôm nay, ở trong cái tổ ngày hôm qua”, văn học hải ngoại của người Việt Nam sau 25 năm bắt buộc nhìn về phía trước. Theo nghĩa đó, tôi tin rằng dịch thuật chính là cánh cửa mở ra văn học Việt Nam hải ngoại. Dịch thuật còn là cái cầu “Ô Thước”, cho hai con phượng hoàng song sinh “hội nhập”, trở thành một. So với hằng hà sa số những “sáng tác” hiện xuất hiện trên một số báo văn học, và xuất hiện đầy rẫy trên những trang nhà trong không gian ảo trên lưới thông tin toàn cầu, chúng ta mới nhận ra sự quan trọng của dịch thuật, theo nghĩa: chiếm đoạt, cầm tù cái nghĩa (meaning), làm giầu có cho tiếng nói, ngôn ngữ Việt.

 “Đừng gọi ta là Hiệp Sĩ Mặt Buồn nữa. Hãy gọi ta là Hiệp Sĩ Sư Tử”, Don Quixote ra lệnh cho người hầu. Hiệp Sĩ Mặt Buồn ám chỉ Đấng Cứu Thế. Hiệp Sĩ Sư Tử là để chỉ con người, trong cuộc phiêu lưu tìm lại chính mình, một khi thần thánh đã bỏ đi. Cuộc phiêu lưu đó bắt đầu bằng tiểu thuyết. Với Âu Châu, tiểu thuyết là thể dạng văn học thứ ba, sau hùng ca và bi kịch (Hy Lạp). Theo G. Lukacs, tiểu thuyết là để diễn tả cõi “không nhà siêu việt”; nói nôm na, nó diễn tả thân phận lưu vong của con người, khi không còn thần thánh nữa.

 Theo nghĩa đó, nhà văn Việt Nam hải ngoại bắt buộc phải là những vị hiệp sĩ sư tử, trong cuộc chinh phục ý nghĩa, về chính thân phận người Việt lưu vong nơi xứ người.

  NQT

Thursday, July 7, 2016

Orhan Pamuk tưởng niệm Umberto Eco

source: http://www.faz.net/aktuell/feuilleton/buecher/autoren/zum-tod-von-italienischen-schriftsteller-umberto-eco-14082704.html

Tôi thực sự choáng váng khi hay tin Umberto Eco qua đời. Ông là nhà văn có sức ảnh hưởng sâu đậm đến tôi, và từ ông tôi đã học được rất nhiều điều, tôi xin nói rằng: tôi không những kính trọng, mà còn hết mực yêu quý và ngưỡng mộ ông.

Vào những năm '80s, khi tôi cố gắng hướng mình thành một tác giả trường phái hậu hiện đại, có nhiều yếu tố thể nghiệm, tôi đọc những cuốn sách của ông, và tìm thấy rất nhiều sự nâng đỡ từ tính bông đùa hậu hiện đại, phong cách ông sử dụng tính hài hước, trí tuệ và mỉa mai trong những cuốn tiểu thuyết. Ở nơi tôi sống, chúng tôi có những vấn đề của riêng mình trong cách xử lý Lịch sử và Truyền thống. Những cuốn sách của Umberto Eco đã chỉ cho tôi những khả năng tiếp cận những vấn đề này với tư cách nhà văn.

Tôi rất may mắn, khi chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên ở Istanbul cách đây đã nhiều năm, rồi ông mời tôi tới Bologna, tại chính trường đại học, tại chính khoa kí hiệu học của ông, tôi được phép giữ lại nhiều bài giảng. Sau đó chúng tôi đôi khi gặp nhau ở Istanbul, ngồi trò chuyện cùng nhau trong phòng làm việc của tôi. Ông thật vô cùng sáng suốt và dí dỏm, rằng mỗi cuộc gặp gỡ với ông là một niềm vui lớn lao. Có một điều bạn nên biết: Mỗi khi ai đó lắng nghe Umberto Eco, người đó sẽ nở một nụ cười. Tại sao ư? Bởi vì khi đó Eco cho phép người đó được sống trong thế giới của ông, một thế giới tuyệt vời của những điều khéo léo, thông mình và thông tuệ. Sự thông tuệ đối với ông không phải là sức mạnh, mà là sự tự do. Umberto Eco hiểu rằng sự thông tuệ là con đường tuyệt vời nhất để giải phóng con người một cách hòa nhã và vui tươi. Vì điều này mà tôi yêu mến và ngưỡng mộ ông hơn tất thảy.

Một hôm, khi ông đến phòng làm việc của tôi ở Istanbul, ông ngồi đối diện tôi trên một chiếc ghế lớn. Và khi tôi kể cho ông nghe rằng, chiếc ghế này là của cha tôi và tôi thường nhớ cha tôi đã ngồi trên chiếc ghế này như thế nào, khi tôi còn nhỏ, Eco gật đầu và nói, ông cùng tuổi với cha tôi. Tôi tin rằng, ông muốn ngụ ý, theo một cách nào đó, ông giống như người cha của tôi. Tôi cho rằng ông đã đúng: Umberto Eco, từ con người này tôi đã học quá nhiều điều, là một hình tượng người cha trí tuệ của tôi. Với lòng tiếc thương vô hạn.

Wednesday, June 8, 2016

The heart of the matter (1)

James Wood, khi đọc The heart of the matter, tự hỏi, tại sao ta không bắt đầu ngay chính nó, cái đoạn văn mở ra cả tác phẩm:

Wilson ngồi tựa đầu gối trần trụi vào khung sắt trên bao lơn khách sạn Belford. Đó là một ngày Chúa nhật và chuông Thánh đường đổ một hồi lễ sớm. Bên kia phố Bond, qua những ô kính trường Trung học, những nữ sinh da đen mặc áo sơ mi đang vung vẩy mái tóc xoăn tít. Wilson mân mê bộ ria mới chớm, chờ ly gin hồng (gin-and-bitters).

Một khúc mở đầu, với độ tỉ mỉ theo trường phái Flaubert khúc xạ qua ống kính quay phim, cho ta biết tại sao Graham Greene gọi mình là "a film man". Chỉ trong vài dòng, Greene thực hiện sự tôn kính với một truyền thống, rằng giọng văn giả tưởng chỉ nên trưng bày, chứ không kể. Nhưng, vậy thì, cái gì được trưng bày ở đây?

Đầu tiên, khách sạn Belford và phố Bond. Những cái tên kinh điển này cho ta biết bối cảnh của một thuộc địa Anh, chỉ phảng phất chút gì chung thủy với mẫu quốc. Chiếc quần cộc của Wilson khẳng định lại điều này, nhưng nó còn có một hàm ý sâu xa hơn: học trò mặc quần cộc. Vậy thì tay thực dân trẻ viễn dương này, nhìn từ trên cao xuống những gì gã cai trị, chẳng hơn gì một đứa trẻ, một âm bản trắng của những nữ sinh da đen hắn thấy bên kia đường. Cái đầu gối trần trụi của Wilson đang tựa vào khung sắt của cái bao lơn như thể khung sắt của cái bàn học. Hay là một hàm ý đen tối hơn? Có thể cái đầu gối đang bị cầm tù.

Đoạn văn mở đầu thiết lập không chỉ địa dư mà còn viễn ảnh của cuốn sách: một thuộc địa Anh ở Tây phi trong Thế chiến II, phỏng theo chuyến du hành của Greene tới Sierra Leone. Xuyên suốt cuốn sách, nơi chốn này như thể một trường nội trú và như một nhà tù. Scobie, nhân vật chính khốn khổ, nghiền ngẫm, "người ta đếm tuổi theo tháng năm ở thuộc địa", hay-như điều này ngụ ý-như tù nhân bóc lịch.

[ Mục đích của giả tưởng, Joseph Conrad viết, là để ‘thấy, nhìn’. (Le but de la fiction est de donner voir). Nước trôi mây cuốn, Stevenson cho câu chuyện ‘chẩy xung quanh hình ảnh mà ông ta tạo nên’. Ngay từ khởi thuỷ, tiểu thuyết hiện đại tìm kiếm, điều mà điện ảnh đã hoàn tất. Từ đó, những mô tả nhân vật thật chi ly tỉ mỉ của Balzac, là để đợi một tay đạo diễn. Để ‘chính danh’, tới lượt điện ảnh đòi cho nó, một thế giá ‘viết’ đích thực: Ta cũng là văn chương như mi! Ta cũng là một thứ chữ viết! Cuộc thoại - đối thoại, mâu thuẫn, xung đột, rồi chan hòa vào nhau - giữa chữ viết và hình ảnh, đã trấn ngự thế kỷ của chúng ta. Với đìện ảnh, là hiện diện tức thời, thế giới bầy ra đó; với văn chương, là cả một ‘trường tưởng tượng’ (champ de l’imaginaire). Nhà văn bắt đầu ‘mượn đỡ’ kỹ thuật, văn phạm điện ảnh, để ‘xài riêng’. Ngược lại, điện ảnh khám phá ra một điều: văn chương là một cái giếng giầu sang, vô đáy, tha hồ mà tiêu xài, phung phí.]

Saturday, June 4, 2016

Alberto Manguel đọc Sa mạc Tác ta




"The eye with which I see God is the same eye with which God sees me"
-Meister Eckhart

Như nhiều cuốn sách yêu thích, cuốn của Buzzati tôi đọc thuở mới lớn, câu chuyện của Drogo, một sĩ quan trẻ được phái đi trấn giữ “Đồn Xa”, ở tận mép bờ sa mạc Tác Ta, và năm này qua tháng nọ, anh bị ám ảnh bởi cái chuyện là, phải chứng tỏ mình là một tên lính xứng đáng trong cuộc chiến đấu chưa hề xẩy ra, với rợ Tác Ta.
Đồn Xa quả là một tiền đồn heo hắt. Và chẳng giống ai. Nó có một hệ thống rắc rối, của những mật ngữ dùng để kiểm tra, khi vô cũng như khi ra.

Tôi [Alberto Manguel] nhớ là đã từng cảm thấy khiếp sợ [và lúc này đang bị] đẩy vào trong một cơn ác mộng của Drogo, gồm đầy những bí mật của những bí mật, của những mật mã, được trao cho, chỉ một vị sĩ quan chỉ huy, và vị này có thể bị mất trí nhớ, hoặc quên mẹ mất đường. Một mạng nhện, của những luật lệ phi lý, sự đe dọa của một kẻ thù vô hình, chúng âm vang, vọng đi vọng lại, rền rền rĩ rĩ, tất cả những nguồn cơn ai oán, những bực bội không lối thoát, vô hy vọng, của một thời mới lớn, và bây giờ, của một người đàn ông đi quá nửa đời người.

Ở Đồn Xa, không phải thời gian ngừng trôi, mà là kinh khủng hơn, thời gian tiếp tục theo nhịp điệu của riêng nó, chia cắt Đồn Xa ra khỏi phần còn lại của Vũ Trụ.
Giống như những nơi chốn ‘tận cùng thế giới’ - Finisterre, Land's End, Tierra del Fuego - Newfoundland [tên một vùng đất - một tiểu bang - của Canada] tách biệt ra khỏi cõi thời bình thường, thường lệ. St John’s có một điều gì đó của Đồn Xa trong cuốn tiểu thuyết Sa mạc Tác Ta của Dino Buzzati: một nơi chốn có vẻ như không thể nào rời bỏ, và cũng không thể tới được, một nơi chốn đóng cứng vào thời gian chuyện thường ngày ở huyện của riêng nó, và không có cái gì ở bên ngoài có thể đụng vô. Có thể vì vậy mà tôi thấy St John’s thật kỳ kỳ...

Khi Drogo chết (như là một anh già, với ước mơ chiến thắng Rợ Tác Ta mũi tẹt không thoả nguyện), Buzzati có đó, để an ủi bồ tèo của mình. Khi Don Quixote ngỏm, Cervantes ú ớ, không biết nói câu giã từ kẻ mà mình sáng tạo ra, bèn lắp ba lắp bắp: "Cái phần tinh anh của Ngài [Đức Ông, Don], đã bỏ Ngài, tôi muốn nói, Ngài ngỏm rồi". Trước cái chết của Drogo, Buzzati an ủi kẻ mà mình tạo ra, này, vưỡn còn một trận uýnh, bảnh lắm, rất xứng đáng với bồ tèo!

Không phải trận đánh chống Rợ Tác Ta mũi tẹt, cũng không phải trận đánh chống lại "những con người như bồ tèo - những con người bị tra tấn, như bồ tèo đang bị tra trấn - bằng chờ đợi, chờ hoài chờ huỷ một trận đánh đếch xẩy ra, bằng đau khổ, với thịt da rất dễ bị bầm dập, với bộ mặt mà một con người có thể nhìn vô, [và nhỏ lệ, như BHD đã từng nhỏ lệ, lần Gấu ăn mìn VC!]” nhưng mà là một trận đánh chống lại "một sinh vật vừa quỉ ma vừa quyền lực vô biên, vô cùng tận" [Cái Ác Bắc Kít]. Và Buzatti bèn nói thêm, điều này:
“Hãy can đảm, Drogo, đây là con bài chót của bồ tèo – đi tới cái chết, như là một người lính, và cho phép cuộc đời lầm lẫn của bồ có được một cái tận cùng thật bảnh. Cuối cùng, bồ đã chơi cho số mệnh một cú thật hách. Chẳng có ai ca ngợi bạn, chẳng có ai gọi bạn là anh hùng [Núp], hay dũng sĩ diệt Mỹ Ngụy, hay một cái tên na ná như vậy, và, chính vì lý do này, mà thật đáng công, bõ chết. Bước qua lằn ranh mờ mờ ảo ảo bằng một bước thật vững vàng, đầu ngẩng cao như đang đi diễn hành trước Lăng Bác, và nếu có thể, mỉm cười. Nói cho cùng, luơng tâm của bạn sẽ không đến nỗi quá nặng nề. Bạn sẽ không phải tự vấn, tự kiểm, tôi là một thằng hèn, tôi đang đi tìm cái tôi đếch có, cả đời tôi ăn bánh vẽ... Và Thượng Đế bèn mỉm cười, trao tặng bạn gói quà, là lời tha thứ của Người.”

-NQT lược dịch